3 lỗ hổng lớn trong hệ thống pháp luật về đất đai

Quyết định hành chính có thể sinh lợi nên tạo điều kiện cho nguy cơ tham nhũng thành sự thật là một trong những lỗ hổng của chính sách quản lý đất đai hiện nay.

Chiều ngày 20/4, Liên minh Đất đai (Landa) và Liên minh Truyền thông và Quyền của nhóm dễ bị tổn thương (RiM) đã tổ chức tọa đàm “Chính sách, pháp luật về đất đai” tại Hà Nội.

Tham gia buổi tọa đàm, GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đánh giá trong hệ thống pháp luật về đất đai hiện nay có 3 lỗ hổng lớn:

Thứ nhất, việc chúng ta vận hành chế độ công hữu đất đai trong cơ chế thị trường là cực kỳ khó. Bởi vì sở hữu đất đai là công hữu nhưng lại phải công nhận vận hành quyền sử dụng đất trên thị trường. Điều này khiến chúng ta phải thay thế bằng quyền sử dụng đất.

Lỗ hổng thứ hai nằm ở cơ chế nhà nước khi thu hồi đất và thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư. Chẳng hạn, năm 1993, chúng ta dùng cơ chế nhà nước thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phục vụ mục đích quốc phòng – an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Có thể nói đây là một tiêu chí thu hồi đất “rất đẹp” nhưng khi vận dụng vào thực tế thì lại “lởm khởm” khi đã thu hồi với tất cả trường hợp, các dự án được phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau đó lỗ hổng này đã được cố gắng khắc phục vào năm 2003. Đặc biệt, pháp luật đất đai đã xác định rõ tiêu chí nào vì lợi ích quốc gia, trong đó không có chuyện dùng đất quốc phòng để kinh doanh mà chỉ được sử dụng để bảo vệ đất nước. Tuy nhiên đến luật đất đai mới nhất vào năm 2013 lại vẫn tồn tại thực tế là những dự án mà nhà nước thu hồi đất liên tục xảy rakhiếu kiện, trong khi những dự án do nhà đầu tư tự thương thảo cũng chỉ đạt được thỏa thuận khoảng 70%-80%, phần còn lại thường bị người dân phát giá “trên trời” khiến nhà đầu tư bỏ cuộc.

Chính sách quản lý đất đai tại Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển đô thị. Ảnh minh họa: Tấn Thạnh
Chính sách quản lý đất đai tại Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa theo
kịp tốc độ phát triển đô thị. Ảnh minh họa: Tấn Thạnh

Lỗ hổng thứ ba nằm ở chỗ Việt Nam là một trong những nước có quyết định hành chính về đất đai “đẻ” ra tiền, diện tích đất càng lớn tiền càng nhiều. Đây chính là nguồn cơn cho nguy cơ tham nhũng và là cơ chế không tốt.

“Đúng ra, cái đích của việc quản lý đất đai là tạo hiệu quả cao về sử dụng đất thế nhưng Luật Đất đai 2013 tăng cường sự chặt chẽ trong quản lý của nhà nước là không đúng. Vì khi quản chặt đến mức người dân không thể nào “cựa” được thì sẽ không làm được gì cả” – ông Võ phân tích.

Cũng tại buổi tọa đàm, TS Hoàng Xuân Lương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quyền con người vùng dân tộc và miền núi, nhận xét hiện nay, chính sách đất đai cho các vùng dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập. Trong đó đáng kể nhất là việc đồng bào dân tộc thiểu số đang ngày càng bị thu hẹp không gian sinh tồn. “Gốc tích của vấn đề này là Luật Đất đai 2013 chưa giải quyết thỏa đáng mối quan hệ lợi ích của người dân trong thuật ngữ sở hữu toàn dân. Dù đưa ra khái niệm sở hữu toàn dân nhưng thực tế trong giải quyết vấn đề cụ thể thì người dân không có lợi ích. Khi giải quyết các vấn đề đất đai, chúng ta còn nặng về giải quyết trách nhiệm của doanh nghiệp, địa phương trong dự án lớn chứ chưa quan tâm hàng đầu đến việc giải quyết cho người dân chuyển đổi sang một đời sống khác như thế nào” – ông Lương bày tỏ.

Nên để địa phương quyết khung giá đất

Cùng ngày, tại Tp.HCM, đoàn công tác của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên – Môi trường cũng có buổi làm việc với Hiệp hội Bất động sản Tp.HCM (HoREA) về một số kiến nghị liên quan đến việc sửa đổi, chỉnh sửa Luật Đất đai 2013.

Đại diện HoREA, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch hiệp hội cho rằng trước khi triển khai một dự án, doanh nghiệp phải đối mặt với hàng loạt khó khăn về thủ tục. Cụ thể, các doanh nghiệp phải mất từ 2-3 năm ở cửa Sở Tài nguyên – Môi trường và Sở Tài chính để giải quyết hồ sơ xác định và thẩm định giá đất. Cũng theo ông Châu, khung giá đất và bảng giá đất ở Tp.HCM hiện không còn phù hợp với tình hình thực tế của thị trường hiện nay. Cụ thể, giá thẩm định tại nơi được cho là khu “đất vàng” nằm trên các đường Nguyễn Huệ, Đồng Khởi, Lê Lợi (quận 1)… chỉ đạt 194,4 triệu đồng/m2. Trong khi đó, vào năm 2009, một nhà đầu tư vì nhu cầu kinh doanh đã phải mua lại căn nhà cũ nát tại giao lộ Đồng Khởi – Nguyễn Huệ với số tiền khoảng 80 cây vàng/m2 (tức khoảng 3,6 tỉ đồng/m2). Một ví dụ nhỏ này cho thấy bảng giá đất quy định của Tp.HCM là quá thấp so với thị trường.

Sau khi nêu ra những vướng mắc trên, chủ tịch HoREA kiến nghị Chính phủ không ban hành khung giá đất mà nên giao toàn quyền cho cấp tỉnh chịu trách nhiệm và quyết định ban hành bảng giá đất cho các địa phương trên địa bàn.

(Theo Người lao động)